Giới thiệu

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

BỆNH VIỆN ĐA KHOA  CAO SU ĐỒNG NAI.

 

          Bệnh viện Đa khoa Cao su Đồng Nai, quy mô 120 giường bệnh, được xếp hạng ba, (tiền thân là Dưỡng đường Trung ương S.H.I.P, rồi Bệnh viện Công ty Cao su,…..) nằm trong một khuôn viên rộng khoảng 41.000 m2, cạnh quốc lộ 1A , cách Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai 43km về hướng Đông, cách Thị xã Long Khánh 4 km về hướng Tây theo trục Quốc lộ 1A. Bệnh Viện Đa khoa Cao Su Đồng Nai thuộc Ấp Dưỡng Đường, Xã Suối Tre, Thị xã Long Khánh, Tỉnh Đồng Nai, là cơ quan đứng đầu một mạng lưới y tế  của Tổng Công Ty Cao Su Đồng Nai, trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam.

Dưỡng đường Trung ương được xây dựng từ năm 1943 do Công Ty S.I.P.H (Socíeté Indochinoise des Plantations d’Hévéas) quản lý, trước đây thuộc làng Xuân Lộc, tổng Bình Lâm Thượng, tỉnh Biên Hòa. Đây là đơn vị y tế của Công ty  Cao su Đông Dương, nhằm mục đích điều trị khám chữa bệnh cho 8.000 công nhân và gia thuộc ở các đồn điền cao su  (An Lộc – Terre Rouge – Xuân Lộc – Suzanna), nhân viên đều là người Việt (khoảng 30 người), dưới sự lãnh đạo của  1 – 2 Bác sỹ người Pháp.

                                                  Dưỡng đường Trung ương đang xây dựng giai đoạn cuối

Ngoài ra, tại các đồn điền, mỗi nơi đều có 1 bệnh xá, có từ 1 đến 3 nhân viên y tế phục vụ, chủ yếu là khám kê đơn, xử lý sơ cấp cứu và điều trị các bệnh thông thường. Đây cũng là những cơ sở chọn lọc bệnh, đối với các trường hợp bệnh nặng hơn, hàng ngày các đồn điền có xe chở bệnh nhân về Dưỡng đường Trung ương, và khi cần thiết thì bệnh nhân được chuyển tiếp đến các bệnh viện tại Sài Gòn như: Bệnh viện Chợ Rẫy, Từ Dũ, Bình Dân, Đồn Đất (Grall). . .

Những năm đầu thập niên 1970, tình hình chiến sự diễn ra ngày càng ác liệt. Tháng 4/1975, Long Khánh được giải phóng, ngày 22/4/1975 Bệnh viện  được quân Giải phóng (K.82) tiếp quản và sử dụng để điều trị cho rất nhiều thương bệnh binh và nhân dân. Nơi đây đã trở thành một Trạm phẫu thuật tiền phương trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử .

Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (30.4.1975)  Bệnh viện  vẫn còn được điều hành bởi đơn vị Quân Y K.82.  Đến ngày 02/6/1975 Công ty Cao su Đồng Nai được thành lập Bệnh viện được chuyển giao chính thức cho Công ty và mang tên Bệnh viện Công ty Cao su Đồng Nai (Nhân dân địa phương quen gọi theo địa danh là Bệnh viện Suối Tre).

  1. Giai đoạn hình thành và xây dựng mạng lưới Y tế Cao Su Đồng Nai 1975 – 1979: 

Sau khi được thành lập, Bệnh viện Công ty Cao su Đồng Nai là đơn vị y tế đầu ngành, chịu trách nhiệm phục vụ cho khoảng 7.000 công nhân còn lại tại các đồn điền. Lúc này mạng lưới y tế ở các Nông trường hầu như không hoạt động . Riêng tại Bệnh viện tuy chưa được phân bổ chỉ tiêu giường bệnh, nhưng vẫn tạm thời phục vụ trên cơ sở vật chất trang thiết bị còn lại với đội ngũ nhân viên y tế lưu dụng, mà hầu hết là y tá của Dưỡng đường cũ.

Năm 1976, Công Ty mở rộng diện tích khai thác, hàng ngàn công nhân được tuyển từ kế hoạch phân bổ dân cư theo chính sách Nhà Nước, đưa về các Nông trường để khai hoang trồng mới. Các khu dân cư Kinh tế mới được thành lập, do đời sống kinh tế chưa ổn định, điều kiện môi trường sinh hoạt còn thô sơ, dân cư biến động ….. nên tình hình bệnh tật rất phức tạp. Nhiều bệnh dịch có cơ hội bùng phát như: sốt rét, dịch hạch, tiêu chảy, ghẻ ngứa…..

Tại Bệnh viện, hàng ngày giải quyết hàng trăm trường hợp bệnh từ các Nông trường đưa về, với số nhân viên y tế ít ỏi, nguồn thuốc men hạn chế.

Trước tình hình đó, để kịp thời đáp ứng mọi nhu cầu cấp bách về y tế. Dưới sự chỉ đạo của Công ty, Bệnh viện đã nhanh chóng mở một lớp Cứu thương gồm 32 người để bố trí làm việc tại các Nông trường và bệnh viện. Sau đó, cùng với trường Trung học Y tế Đồng Nai tại Long Khánh (1976 -1979) mở 2 lớp Y tá tại chỗ, đào tạo thêm 25 nhân viên y tế cho bệnh viện.

          Song song với việc bổ sung nguồn nhân lực, Công ty cũng đã tăng cường mua sắm thuốc men, trang thiết bị và sửa chữa xây dựng  cơ sở hạ tầng cho ngành Y tế. Bệnh viện dần dần ổn định, mỗi Nông trường đều  có một trạm y tế, từ 2 đến 5 nhân viên phục vụ. Như vậy, mạng lưới y tế của Công ty Cao su Đồng Nai đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, với nhiệm vụ chủ yếu lúc bấy giờ là : ngăn ngừa sự bùng phát của nhiều bệnh dịch nguy hiểm, trong đó  có dịch hạch và sốt rét.

Nếu từ những tháng đầu năm 1977, chỉ có một vài trường hợp dịch hạch xuất hiện rải rác, thì đến năm 1979, dịch hạch đã bùng phát tại nhiều Nông trường như : Cẩm Đường, Xà Bang, Cù Bị, Cẩm Mỹ và đã trở thành mối đe dọa khủng khiếp, làm tổn hao nhiều về người và của trong cộng đồng công nhân cao su. Trạm Vệ sinh Phòng dịch Đồng Nai, Ban Y tế Tổng Cục Cao su  cùng với Công ty Cao su Đồng Nai tập trung dập dịch trong điều kiện thiếu thốn về thuốc men, nhân lực và kinh nghiệm, hạn chế được mức tác hại, nhưng hiệu quả chống dịch không cao, dịch vẫn  còn tiếp tục  phát triển những năm về sau.

Đối với Sốt rét, thời điểm này cũng rất phức tạp, hàng năm có hơn 300 trường hợp Sốt rét, trong đó 15% là Sốt rét ác tính, tỷ lệ tử vong do Sốt rét là 1.5%. Trạm Sốt rét tỉnh Đồng Nai đã trực tiếp chỉ đạo và phối hợp hành động để khống chế dịch kịp thời.

Tại Bệnh viện, với 200 giường thực kê (lúc này chưa phân bổ kế hoạch) đã tổ chức được các khoa lâm sàng như :  Nhiễm, Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Cấp cứu, Khoa Khám bệnh.  Các khoa Cận lâm sàng :  X Quang, Xét nghiệm, Dược và các phòng chức năng . Bệnh viện tiếp nhận  trung bình khoảng 4.500 trường hợp một năm, hầu hết là các bệnh truyền nhiễm và bệnh nội khoa khác. Ngoài ra, bệnh viện còn có 2 đội chuyên ngành làm công tác Y học Dự phòng.

Tóm lại, đặc điểm của giai đoạn này là :

– Cơ sở vật chất, trang thiết thiết bị còn hạn chế.

– Tổ chức nhân lực yếu và mỏng.

– Môi trường sống chưa ổn định.

– Dân cư biến động cao.

– Nhiều bệnh dịch nguy hiểm bùng phát.

      Vì vậy, việc tổ chức màng lưới y tế, củng cố nhân lực cả về số lượng lẫn chất lượng, tập trung phòng chống dịch là những chỉ tiêu cơ bản mà ngành y tế phải đạt được. Đây cũng là giai đoạn mà Y tế Cao su đã vượt qua nhiều thử thách khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ là chăm sóc sức khoẻ cho người lao động Ngành Cao su.

  1. Giai đoạn củng cố 1980 – 1990 :

       2.1- Ổn định mạng lưới y tế 1980 – 1984 :

Năm 1980 mạng lưới y tế đã được xây dựng hoàn chỉnh, đã có 18 trạm y tế ở Nông  trường  và nhiều phân trạm y tế ở các đội sản xuất. Tại Bệnh viện cũng đã xây dựng được cơ cấu tổ chức tương đương với bệnh viện hạng 3, với đầy đủ các Khoa Phòng, bộ phận. Ngoài ra, được sự hổ trợ của Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh và Ban Y tế Tổng Cục Cao su  đã giúp đào tạo mạng lưới y tế dự phòng gồm các nhân viên  Y tế Cộng đồng, Trung cấp Vi sinh Dịch tễ, trang bị một Phòng Xét nghiệm Tổng hợp của UNICEF, phục vụ cho công tác phòng chống dịch.

Về đối tượng phục vụ, công nhân trong toàn công ty trong thời gian này đã lên đến 22.000 lao động, cộng với hơn 46.000 gia thuộc. Do vậy, đội ngũ y tế cũng đã được tăng cường. Tổng số Cán bộ nhân viên Y tế là 150 người, trong đó phục vụ tại bệnh viện là 85 người. Lúc này, khi  đời sống công nhân và cư dân trong toàn công ty đã tạm ổn định , thì một vấn đề khác được quan tâm là tình hình dân số, trước năm 1980 tỷ lệ sinh so với nữ công nhân luôn ở mức trên 15 %, hàng năm có khoảng 1.300 đến 1.500 trẻ ra đời. Công tác Sinh đẻ Kế hoạch tại Công ty lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự giúp đỡ của Trạm Bảo vệ Bà Mẹ – Sinh đẻ Kế hoạch Đồng Nai. Bệnh viện đã đề xuất Công ty nhờ Bệnh viện Từ Dũ đào tạo về kỹ thuật, dịch vụ Sinh đẻ Kế hoạch cho cán bộ chuyên trách.

Từ năm  1980 đến 1984, Bệnh viện vừa tự củng cố, tập huấn đào tạo cho Y tế cơ sở vừa liên tục gởi nhân viên về Bệnh viện Từ Dũ để học tập, trên cơ sở đó bệnh viện thành lập Đội Sinh Đẻ Kế hoạch (về sau là Đội Dân số Kế hoạch hóa Gia đình ) gồm 4 nhân viên và có mạng lưới là Nữ hộ sinh tại các trạm y tế Nông trường. Như vậy, Bệnh viện đã xây dựng được nền tảng bước đầu trong hoạt động Kế hoạch hóa gia đình, chủ động thực hiện kế hoạch hàng năm mà không còn phụ thuộc hẳn vào Trung tâm  của tỉnh.

 Cũng trong thời gian này, do tình hình cung ứng thuốc men biến động , để góp phần ổn định , Bệnh viện đã tự đào tạo thêm một mạng lưới nhân viên Y học Cổ truyền  cho các Nông trường. Đồng thời, xây dựng một cơ sở sản xuất thuốc Nam, dập viên đóng gói vào bao bì theo quy trình tương đối hiện đại. Nhờ vậy đã phần nào giải quyết khó khăn về cung ứng thuốc điều trị.

Tại Bệnh viện đội ngũ Y, Bác sĩ cũng đã được tăng cường nâng chất lượng điều trị . Công tác nghiên cứu Khoa học kỹ thuật bắt đầu được quan tâm . Năm 1984 lần đầu tiên Bệnh viện  tổ chức được một buổi báo cáo Khoa học với hơn 10 đề tài.  Nhiều đề tài rút ra được những  kinh nghiệm  để áp dụng vào thực tiễn như : Viêm giác mạc do dăm dầu (2,4-D) vào mắt, Lấy dị vật qua màn huỳnh quang, Mô hình bệnh tật tại Bệnh viện Công ty, Điều trị dịch hạch thể phổi,…..

Trong 2 năm 1983 và 1984 dịch hạch bùng phát mạnh, hầu hết các Nông trường đều ghi nhận  có trường hợp bệnh dịch hạch. Đặc biệt tại các Nông trường Xà Bang, Cù Bị, Cẩm Đường, Cẩm Mỹ, Ông Quế có số bệnh nhân mắc cao, công tác phòng chống dịch hạch được triển khai một cách quy mô. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Viện Pasteur Tp. Hồ Chí Minh, Bệnh viện Chợ Quán, Ban Y tế Tổng Cục Cao su Việt Nam , Trung tâm Vệ sinh Phòng dịch tỉnh Đồng Nai và Ngành Y tế  Công Ty Cao su Đồng Nai , đã tiến hành các biện pháp phòng chống dịch triệt để trên khắp các Nông trường  trong công ty. Hàng trăm Kỹ sư, Bác sỹ, công nhân địa phương và cả các chuyên gia Viện Dịch hạch Trung Á (Liên Xô) ngày đêm theo dõi ngăn chặn dịch. Một mặt kiểm soát môi trường, khống chế vectơ truyền bệnh, thậm chí phải xóa trắng và di dời 2 khu vực dân cư  lớn tại Cẩm Đường và Ông Quế để cải tạo môi trường ăn ở, triệt nơi cư trú và sinh sản của chuột. Mặt khác xây dựng hệ thống giám sát bệnh , kiểm soát vi sinh, xây dựng phác đồ điều trị  dịch hạch tại bệnh viện, nhờ vậy đã tạo được nền tảng cho công tác phòng chống  dịch hạch sau này.

2.2 – Giai đoạn 1985 – 1989: Nâng cao phục vụ y tế Cộng đồng.

Năm 1985, khi cả nước khởi đầu thực hiện Chương trình Chăm sóc Sức khoẻ Ban đầu theo khuyến cáo của Hội Nghị Alma Ata 1979 thì tại Công ty đã phối hợp với Văn phòng 2 Bộ Y tế để triển khai chương trình này gồm các bước : huấn luyện, tuyên truyền, vận động và củng cố nguồn lực.

Với phương châm:“Nâng chất lượng điều trị tại bệnh viện, thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại địa phương” đã trở thành phương châm cụ thể. Để đạt được mục tiêu đó, bệnh viện đã luôn chú trọng đến công tác đào tạo và bổ túc trình độ cho cán bộ hiện có, tiếp nhận số đông Bác sĩ mới tốt nghiệp Đại học Y Huế cùng với số học sinh của trường cấp III Cao su  được cử đi đào tạo tại trường Kỹ thuật Y tế Trung ương III Thành phố  Hồ Chí Minh. Nhờ vậy đến năm 1986, Bệnh viện đã có 09 Bác sĩ, 40 Y sĩ , Kỹ thuật viên, Điều dưỡng và Nữ hộ sinh trung học.

Để củng cố cơ sở hạ tầng, Công ty cho xây mới Khu Khám đa khoa tại  bệnh viện và một số  trạm y tế : Ông Quế, Cẩm Đường, Xà Bang, An Viễng.

Về mặt điều trị ,lúc này bệnh viện đã thực hiện được các loại phẫu thuật : viêm ruột thừa, thủng dạ dày, mổ lấy thai…. Ngoài các xét nghiệm thông thường, cũng đã triển khai thêm xét nghiệm sinh hóa máu, chẩn đoán vi sinh học, huyết thanh học..

Về mặt Y Tế Dự phòng, sau khi thực hiện công tác Chăm sóc Sức khoẻ Ban đầu, Bệnh viện đã ký hợp đồng với các Trung tâm của tỉnh Đồng Nai để triển khai công tác Tiêm chủng Mở rộng, Phòng Chống Lao, Kế Hoạch hóa Gia đình , Kiểm soát các bệnh tiêu chảy (CDD), Nhiễm khuẩn Hô hấp Cấp ở trẻ em (ARI), phòng chống Sốt rét.

Trong chương trình kiểm soát bệnh dịch tại địa phương, đặc biệt quan tâm đến phòng chống dịch hạch ; tổ chức giám sát và diệt chuột  đồng loạt trước mùa dịch, giám sát vi sinh học để theo dõi diễn biến dịch tễ, tiếp tục cải tạo môi trường, đồng thời tăng cường phát hiện bệnh. Đến năm 1987, dịch hạch gần như bị khống chế, không còn vụ dịch nào ở người xảy ra, rải  rác vài nơi còn dịch chuột, không có tử vong do dịch hạch, số trường hợp mắc trong năm chỉ còn 07 trường hợp. So với trước đây, từ năm 1988 đến nay, không ghi nhận được bệnh dịch hạch ở người nữa.

Công tác phòng chống sốt rét cũng được đẩy mạnh bằng cách phun thuốc diệt muỗi cho các Nông trường có tỷ lệ sốt rét cao, điều tra cơ bản tìm ký sinh trùng sốt rét và cấp thuốc điều trị dự phòng trong cộng đồng.

Vài bệnh dịch khác xuất hiện lẻ tẻ không thành dịch như : Sốt xuất huyết, thương hàn, não mô cầu, bạch hầu, bại liệt, ho gà…

Riêng công tác Kế hoạch hóa Gia đình sau 8 năm hoạt động, đã hạ tỷ lệ sinh từ 17 % (so với nữ công nhân năm 1989) xuống còn 7% . Được như vậy là nhờ sự nổ lực của mạng lưới chuyên trách cùng sự quan tâm hỗ trợ tích cực của Ban lãnh đạo các cấp, các đoàn thể  trong Công ty, nhiều nơi Ban Giám đốc, Công đoàn Nông trường đến động viên, thăm hỏi trực tiếp những nữ công nhân  thực hiện các biện pháp sinh đẻ kế hoạch. Về phía Công ty, Công đoàn và Y tế đã phối hợp thực hiện công tác truyền thông dân số và đề ra các chế độ khen thưởng nhằm khích lệ cộng đồng hưởng ứng phong trào.

3- Giai đoạn 1990 đến 2003: Phát triển chuyên môn.

  3.1-Nâng cấp trang thiết  bị  và phát triển kỹ thuật : 

Từ năm 1990 đến 1994 , bệnh viện nổ lực củng cố về nhân sự, thu nhận thêm nhiều cán bộ Đại học, cử cán bộ sơ, trung đi học chuyên tu, đồng thời đưa Bác sĩ  đi đào tạo  thêm về các chuyên khoa: Ngoại, Sản, Tai – Mũi – Họng, Răng – Hàm – Mặt, Chấn thương chỉnh hình và cấp cứu Nội Nhi.

Trên nền tảng đã xây dựng về các nguồn lực, theo xu thế phát triển mạnh về Khoa học Y học của cả nước. Công ty đã hỗ trợ và đầu tư mua sắm  cho bệnh viện những phương tiện hiện đại như : máy X Quang đời mới (hãng TOSHIBA), máy siêu âm, điện tim, máy giúp thở, monitor, sốc điện,máy xét nghiệm huyết học, sinh hóa v.v…Phương tiện chẩn đoán đã được bổ sung , bệnh viện đã làm được các xét nghiệm cao hơn về sinh hóa, huyết học lâm sàng, phân lập định danh vi khuẩn, làm kháng sinh đồ.

Riêng trong lãnh  vực Ngoại khoa, bệnh viện cũng đã đồng loạt triển khai phẩu thuật loại I, II, III và các chuyên khoa lẻ như : Tai – Mũi – Họng, Răng – Hàm – Mặt, Mắt. Về cung ứng thuốc, đây là giai đoạn tương đối khó khăn, nhất là các loại dịch truyền  dùng trong điều trị sốt xuất huyết . Khoa Dược đã mạnh dạn đề xuất với lãnh đạo bệnh viện và thực hiện thành công việc pha chế dịch truyền tại chỗ với số lượng đủ cung cấp cho nhu cầu chuyên môn. Trong 4 năm (1990 -1993) bình quân sản xuất được 2.500 lít dịch truyền các loại mỗi năm. Ngoài ra, còn pha chế thêm một số thuốc sát trùng , thuốc ngoài da (thuốc đỏ, oxy già, tinh dầu sả, nước cất pha tiêm v.v….)

Tình hình hoạt động chuyên môn ngày càng khởi sắc, chất lượng chăm sóc người bệnh được nâng cao. Năm 1990, Bệnh Viện được phân bổ 200 giường bệnh, sau đó giảm còn 180 giường. Từ năm 1994 – 1998, chỉ tiêu giường bệnh là 110 giường. Hàng năm, tỷ lệ sử dụng giường luôn đạt từ 80% đến 90%, nhưng đến năm 1994 trở đi, bắt đầu có dấu hiệu quá tải, chiếm tỷ lệ giường mỗi năm đều trên 98%, cao nhất vào năm 1998 với 123,22%.

Năm 1999, nhân sự kiện sáp nhập Trung tâm Phục hồi Chức năng của Tổng Công Ty về Bệnh viện Công ty Cao su Đồng Nai, chỉ tiêu giường bệnh được điều chỉnh hợp lý hơn (130 giường), Bệnh viện thành lập Khoa Vật lý Trị Liệu – Phục Hồi Chức Năng, kết hợp với Y Học Cổ Truyền, thu hút được nhiều bệnh nhân, làm phong phú thêm các phương thức điều trị như : điện châm, sóng ngắn, siêu âm đa tần, tập vật lý trị liệu, chẩn mạch và bốc thuốc Đông y, tạo được niềm tin cho nhân dân  trong khu vực

Về cơ sở hạ tầng, đặc biệt để kỷ niệm 300 năm thành lập Biên Hoà- Đồng Nai, Công ty xây mới một Khoa Cấp cứu rộng  824 m2, với đầy đủ trang thiết bị cần thiết, vào tháng 6/1999 đi vào hoạt động.

Song song với Bệnh viện, y tế Nông trường cũng phát triển: năm 1994, 100%  Y tế cơ sở có Nữ hộ sinh trung cấp và có 5 Bác sĩ về phục vụ tại tuyến Nông trường, mặt khác không còn Trạm y tế nào xếp loại yếu qua các kỳ kiểm tra hoạt động Y tế .

Thời gian này, các chương trình Y tế Quốc gia hoạt động rất tốt: trên 95% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm đầy đủ các loại vaccin trong chương trình tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ mắc các bệnh đã được tiêm chủng giảm hẳn, đến năm 1999 hầu như không còn ghi nhận . Điều này đã được xác nhận qua  các đợt phúc tra củaTrung tâm Y tế Dự phòng Đồng Nai. Công tác phòng chống Sốt rét hoạt động hiệu quả hơn, Trung tâm Phòng chống Sốt rét Đồng Nai trang bị cho Công ty 8 điểm kính hiển vi để phát hiện bệnh và phục vụ điều trị tại cơ sở, các biện pháp phun DDT định kỳ và công tác tẩm mùng bằng hóa chất được thực hiện ở 8/13 Nông trường trọng điểm. Nếu trong 4 năm 1990 – 1993 sốt rét ác tính còn cao (vài chục trường hợp, trong đó có 4 trường hợp tử vong do sốt rét, thì năm 1994 trở đi, tỷ lệ mắc sốt rét giảm, không có sốt rét ác tính , không có tử vong do sốt rét.

Công tác Dân Số Kế hoạch hóa Gia đình cũng cho nhiều kết quả đáng khích lệ, tỷ lệ sanh từ năm 1995 đến nay luôn được duy trì ở mức 3-5 % trên tổng số Nữ công nhân. Công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho Nữ công nhân được ưu tiên, Bệnh viện tổ chức khám và điều trị phụ khoa đến tận cơ sở lồng ghép với khám sức khoẻ định kỳ hàng năm. Ngoài ra, Công ty còn cấp kinh phí để đưa chị em công nhân từ các Nông trường về Bệnh viện Hùng Vương T.P Hồ Chí Minh, mỗi năm một lần để được khám, phát hiện các bệnh phụ khoa, đặc biệt là tầm soát ung thư cổ tử cung.

Chương trình phòng chống lao thực hiện từ năm 1988 đến nay, đã quản lý điều trị hàng ngàn trường hợp bệnh. Với phương thức quản lý bệnh tại nhà, Trạm y tế cùng với gia đình kiểm soát trực tiếp việc dùng thuốc hàng ngày, nhân viên phụ trách thực hiện tốt công tác vãng gia, nên nhiều năm liền đã đem lại hiệu quả thiết thực. Bệnh viện hân hạnh được tiếp nhiều đoàn kiểm tra của Trung ương, kể cả đại diện của tổ chức Nước ngoài đến thăm và giám sát hiệu quả của chương trình, qua đó được công nhận là một tổ chống lao tốt.

Xuyên suốt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, từ nâng cao chất lượng chuyên môn trong Bệnh viện đến chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại địa phương, đội ngũ thầy thuốc luôn quan tâm đến công tác nghiên cứu Khoa học. Trong nhiều năm liền, nhiều đề tài được đánh giá có giá trị thực tiễn trong điều trị và phòng bệnh, ngoài ra có 1 đề tài Quản Lý Dược được giải III – Sáng Tạo Trẻ tỉnh Đồng Nai (1998).

  1. Giai đoạn hòa nhập từ năm 2004 đến nay:

    Từ năm 2004, chỉ tiêu giường bệnh của bệnh viện được giao 140 giường, trong đó có 20 giường Phục hồi chức năng. Bệnh viện được Sở Y tế Đồng Nai quản lý trực tiếp về chuyên môn, nhưng vẫn còn trực thuộc Trung tâm Y tế ngành Cao su.

    Lúc này, ngoài việc hoạt động chuyên môn khám, chữa bệnh cho công nhân ngành Cao su, bệnh viện còn khám, chữa bệnh cho người dân trong vùng có và không có đăng ký thẻ Bảo hiểm Y tế, thực hiện các Chương trình Y tế Quốc gia, Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Chương trình chống Lao Quốc gia, hoạt động công tác Dược, các Hội đồng, công tác khám sức khỏe định kỳ cho người công nhân Cao su…… đã đi vào nề nếp và hòa nhập được với các bệnh viện trong tỉnh Đồng Nai. Hàng năm được Sở Y tế Đồng Nai kiểm tra, đánh giá chất lượng và kết quả việc cải tiến, nâng cao chất lượng bệnh viện đã có nhiều tiến bộ rõ sau mỗi năm.

     Ngày nay, nhiều thiết bị y tế thiết yếu đã được trang bị, chất lượng nguồn nhân lực đã được nâng lên, quy tắc ứng xử đối với người bệnh và thân nhân người bệnh luôn được quan tâm, năng lực chuyên môn của bệnh viện đã có nhiều phát triển mới, nhiều người dân trong vùng và lân cận đã chọn bệnh viện mỗi khi có nhu cầu về khám, chữa bệnh.

  1. LỜI KẾT :

          Ngày nay, đứng trước một mạng lưới y tế hoàn chỉnh, trước một bệnh viện khang trang, hiện đại hơn, cùng với đội ngũ thầy thuốc vững về chuyên môn, tốt về y đức và quan điểm phục vụ, có thể nói rằng, Y tế Cao Su Đồng Nai  đã góp phần không nhỏ  trong sự nghiệp chung của Tổng Công ty trong việc chăm lo, bảo vệ sức khoẻ cho người lao động, tham gia với địa phương trong công cuộc xã hội hóa y tế, chăm sóc sức khoẻ ban đầu và thực hiện một số chương trình Y tế Quốc gia.

          Vượt qua bao thăng trầm , khắc phục mọi khó khăn thử thách để khẳng định được vị trí chức năng của mình, đó chính là nhờ sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp lãnh đạo: Đảng Ủy, Ban Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cao su Đồng Nai, Công đoàn Tổng Công Ty, Sở Y tế Đồng Nai, Trung tâm Y tế ngành Cao su và sự hỗ trợ, động viên của một số đơn vị: Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai, Bệnh viện Thống Nhất Đồng Nai, Bệnh viện Đa khoa Khu vực Long Khánh, chính quyền địa phương xã Suối Tre,….

Cũng không quên các đơn vị đã có nhiều đóng góp, giúp đở hết sức quý báu trong quá trình xây dựng và phát triển của  Bệnh viện như :

–  Bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai, Bệnh viện Lao – Bệnh phổi Đồng Nai.

– Các Trung Tâm : Y Tế Dự phòng, Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Đồng Nai.

– Cùng Ban Giám đốc các Nông trường, các Ban Ngành Đoàn Thể trong Tổng Công ty.

Trong tương lai, Bệnh viện sẽ tiếp tục phấn đấu để xứng đáng hơn nữa với niềm tin của các cấp lãnh đạo, của các cấp quản lý, của công nhân Cao su, nhân dân trong vùng và lân cận.

                                                                                           Lược khảo tư liệu từ tác giả TRẦN ANH LINH